string(87) "tong-hop-cac-hieu-ung-tam-ly-trong-doi-song-va-marketing-day-du-nhat-2022-6747-8404.jpg" TỔNG HỢP CÁC HIỆU ỨNG TÂM LÝ TRONG ĐỜI SỐNG VÀ MARKETING (ĐẦY ĐỦ NHẤT 2022)

TỔNG HỢP CÁC HIỆU ỨNG TÂM LÝ TRONG ĐỜI SỐNG VÀ MARKETING (ĐẦY ĐỦ NHẤT 2022)

TỔNG HỢP CÁC HIỆU ỨNG TÂM LÝ TRONG ĐỜI SỐNG VÀ MARKETING (ĐẦY ĐỦ NHẤT 2022)

Nếu bạn đang tìm một bài viết tổng hợp đầy đủ nhất tất cả các hiệu ứng tâm lý thì bài viết này rất phù hợp với bạn. Hãy lưu lại để tra cứu khi cần nhé!
Nhận báo giá
TỔNG HỢP CÁC HIỆU ỨNG TÂM LÝ TRONG ĐỜI SỐNG VÀ MARKETING (ĐẦY ĐỦ NHẤT 2022)

 

TỔNG HỢP CÁC HIỆU ỨNG TÂM LÝ TRONG ĐỜI SỐNG VÀ MARKETING (ĐẦY ĐỦ NHẤT 2022)

Tổng Hợp các Hiệu ứng tâm lý (Psychological Effects) được tóm tắt một cách ngắn gọn, súc tích, dễ hiểu và đầy đủ nhất (có dẫn nguồn để tham khảo thêm).

Nếu bạn đang tìm một bài viết tổng hợp đầy đủ nhất tất cả các hiệu ứng tâm lý thì bài viết này rất phù hợp với bạn. Hãy lưu lại để tra cứu khi cần nhé!

Chủ nghĩa hiện thực ngây thơ (Naive realism) (trong tâm lý học)

Trong tâm lý học xã hội, chủ nghĩa hiện thực ngây thơ được thể hiện qua xu hướng con người tin rằng chúng ta nhìn thế giới xung quanh một cách khách quan hơn là một sự xây dựng và giải thích thực tế một cách chủ quan.

Niềm tin rằng nhận thức của một người là những cách giải thích thực tế, không thiên vị về thế giới xã hội có 2 ngụ ý quan trọng:

-  Những người lý trí khác sẽ có nhận thức tương tự như chính mình.

-  Những người có nhận thức khác với mình chắc hẳn không biết được những thông tin như mình biết, phi lý trí hoặc có thành kiến.

Noka Marketing

Chủ nghĩa hiện thực ngây thơ cung cấp cơ sở lý thuyết cho một số thiên kiến nhận thức khác, đó là những sai sót có hệ thống khi nói đến suy nghĩ và đưa ra quyết định.

Chúng bao gồm hiệu ứng đồng thuận giả (false consensus effect), thành kiến diễn viên-người quan sát (actor-observer bias), điểm mù thành kiến (bias blind spot) và lỗi quy kết cho bản chất (fundamental attribution error).

Thuật ngữ này, như được sử dụng trong tâm lý học ngày nay, được đặt ra bởi nhà tâm lý học xã hội Lee Ross và các đồng nghiệp của ông vào những năm 1990.

Nó liên quan đến khái niệm triết học về chủ nghĩa hiện thực ngây thơ, là ý tưởng cho rằng các giác quan của chúng ta cho phép chúng ta nhận thức các đối tượng một cách trực tiếp và không có bất kỳ quá trình can thiệp nào.

Các nhà tâm lý học xã hội vào giữa thế kỷ 20 đã lập luận chống lại lập trường này và thay vào đó đề xuất rằng nhận thức vốn mang tính chủ quan.

Lee Ross và nhà tâm lý học đồng nghiệp Andrew Ward đã vạch ra 3 giả định có liên quan lẫn nhau, hay “các nguyên lý” (tenets), tạo nên chủ nghĩa hiện thực ngây thơ.

Họ cho rằng những giả định này được hỗ trợ bởi một hàng dài tư duy trong tâm lý xã hội, cùng với một số nghiên cứu thực nghiệm. Theo mô hình của họ, mọi người thường:

-  Tin rằng họ nhìn thế giới một cách khách quan và không có thành kiến.

-  Mong đợi rằng những người khác sẽ đi đến cùng kết luận, miễn là họ được tiếp xúc với cùng một thông tin và giải thích nó một cách hợp lý.

-  Cho rằng những người khác không có cùng quan điểm phải là người thiếu hiểu biết, phi lý trí hoặc có thành kiến.

Chủ nghĩa hiện thực ngây thơ khiến người ta phóng đại sự khác biệt giữa mình và người khác. Các nhà tâm lý học tin rằng nó có thể châm ngòi và làm trầm trọng thêm các xung đột, cũng như tạo ra các rào cản trong đàm phán thông qua một số cơ chế khác nhau.

Hiệu ứng “hơn mức trung bình” và hiệu ứng “kém mức trung bình” (Better-than-average effect & Worse-than-average effect)

Hiệu ứng “kém mức trung bình” hay còn có tên khác là hiệu ứng “dưới trung bình (below-average effect) là xu hướng con người đánh giá thấp những thành tựu và năng lực của một người trong mối quan hệ với những người khác. Hiệu ứng này dường như xảy ra khi cơ hội thành công được coi là cực kỳ hiếm.

Nó đối lập với hiệu ứng “hơn mức trung bình”, hay có những tên gọi khác như hiệu ứng “trên trung bình” (above-average effect), ảo tưởng ưu việt (illusory superiority), thiên kiến ưu việt (superiority bias), lỗi khoan hồng (the leniency error), cảm giác về tính ưu việt tương đối (the sense of relative superiority), hiệu ứng primus inter pares (the primus inter pares effect), và hiệu ứng Lake Wobegon (the Lake Wobegon effect),…

Trong lĩnh vực tâm lý học xã hội, hiệu ứng “hơn mức trung bình” là tình trạng sai lệch về nhận thức, trong đó một người đánh giá quá cao phẩm chất và năng lực của bản thân trong mối quan hệ với những phẩm chất và năng lực tương tự của người khác.

Ảo tưởng ưu việt là một trong nhiều ảo tưởng tích cực, liên quan đến bản thân, thể hiện rõ trong việc nghiên cứu trí thông minh, hiệu quả thực hiện các nhiệm vụ và bài kiểm tra, cũng như sở hữu các đặc điểm cá nhân và đặc điểm tính cách mong muốn.

Hiệu ứng Dunning-Kruger (Dunning–Kruger Effect)

Hiệu ứng Dunning-Kruger là một thiên kiến nhận thức, cho rằng mọi người thường đánh giá sai kiến thức hoặc khả năng của họ trong một lĩnh vực cụ thể.

Điều này có xu hướng xảy ra bởi sự thiếu nhận thức về bản thân khiến họ không thể đánh giá chính xác các kỹ năng của mình.

Khái niệm về hiệu ứng Dunning-Kruger dựa trên một bài báo năm 1999 của 2 nhà tâm lý học David Dunning và Justin Kruger của Đại học Cornell.

Họ đã kiểm tra những người tham gia về logic, ngữ pháp và khiếu hài hước của bản thân và nhận thấy rằng những người tốp dưới lại đánh giá kỹ năng của họ trên mức trung bình.

Các nhà nghiên cứu cho rằng xu hướng này xảy ra là do siêu nhận thức (metacognition) – khả năng phân tích suy nghĩ hoặc hiệu suất của chính mình.

Hiệu ứng Dunning-Kruger có thể xảy ra với bất kỳ ai, kể cả những người giỏi, có năng lực đôi khi vẫn gặp hiệu ứng này khi họ học được một điều gì mới ở lĩnh vực mà họ không biết hoặc không phải là chuyên gia.

Hiệu ứng ánh đèn sân khấu (Spotlight effect)

Hiệu ứng ánh đèn sân khấu đề cập đến thực tế là mọi người thường đánh giá quá cao mức độ chú ý của người khác dành cho mình.

Chúng ta là trung tâm trong thế giới của chính mình, nhưng hiệu ứng ánh đèn sân khấu nhắc nhở chúng ta rằng chúng ta không phải là trung tâm của tất cả những người xung quanh.

Noka Marketing

Thuật ngữ “hiệu ứng ánh đèn sân khấu được đặt ra bởi Thomas Gilovich và Kenneth Savitsky. Hiện tượng này xuất hiện lần đầu tiên trong thế giới tâm lý học trên tạp chí Current Directions in Psychological Science vào năm 1999.

Lý do cho hiệu ứng ánh đèn sân khấu liên quan đến khả năng hành động của chính chúng ta theo nhận thức của chúng ta.

Mọi người (nói chung) tất nhiên biết rằng họ không phải là trung tâm của vũ trụ đối với mọi người xung quanh. Nhưng khi chúng ta làm một điều gì đó không điển hình, dù tốt hay xấu, chúng ta có xu hướng không đủ chính xác để nhận ra sự khác biệt giữa nhận thức của chúng ta và của những người khác.

Hiệu ứng Baader-Meinhof hay Ảo tưởng tần suất (Baader-Meinhof effect or Frequency illusion)

Hiệu ứng Baader-Meinhof hay ảo tưởng tần suất là sự ảo tưởng rằng một từ, một tên hoặc thứ gì đó khi đã được chú ý thì bỗng nhiên nó xuất hiện với tần suất cao hơn. Tức là bạn bỗng thấy nó nhiều hơn.

Hiệu ứng này được giải thích rằng khi não bạn cảm thấy hứng thú với một thông tin hay một điều gì mà bạn vừa biết được, thì khi đó sự chú ý chọn lọc bắt đầu xảy ra.

Não bạn sẽ nghĩ một cách vô thức rằng “À, cái này hay đấy! Từ giờ mình sẽ tìm những gì liên quan đến nó mà chẳng cần phải suy nghĩ về điều này”.

Và thế là bạn đang tìm nó mọi lúc mọi nơi, rồi khi bạn thấy nó xuất hiện, bạn bắt đầu cho rằng bạn đang thấy nó ngày càng nhiều hơn.

Hiệu ứng bàng quan / hiệu ứng người ngoài cuộc (Bystander effect)

Hiệu ứng bàng quan (hay hiệu ứng người ngoài cuộc, hội chứng Genovese) là hiện tượng trong đó số lượng người có mặt càng đông thì khả năng giúp đỡ một người gặp nạn càng ít.

Khi tình huống khẩn cấp xảy ra, những người quan sát có nhiều khả năng hành động hơn nếu có ít hoặc không có nhân chứng xung quanh. Việc trở thành một phần của một đám đông lớn khiến không ai phải chịu trách nhiệm cho một hành động (hoặc không hành động) của mình.

Hiểu đơn giản là mọi người đều nghĩ rằng ai đó sẽ giúp nạn nhân chứ không phải mình, hoặc nếu mọi người không ai giúp thì chứng tỏ tình huống này không nghiêm trọng lắm, nên mình cũng không cần làm gì cả.

Các nghiên cứu cho thấy càng nhiều người chứng kiến thì càng có ít khả năng ai đó sẽ hỗ trợ. Càng có nhiều người chứng kiến, thì một cá nhân chứng kiến lại càng ít xem vụ tai nạn là một vấn đề nghiêm trọng và ít nhận trách nhiệm để hành động hơn.

Cách khắc phục

Một trong những cách phổ biến để khắc phục hiệu ứng này là thay vì chỉ cầu cứu chung chung như: “Giúp tôi với!”, bạn hãy chỉ cụ thể hoặc gọi một người cụ thể để cầu xin sự giúp đỡ, ví dụ: “Anh áo xanh ơi giúp tôi với!”, hoặc nhìn thẳng vào mắt một người nào đó và nói thật khẩn thiết: “Làm ơn gọi cấp cứu giúp tôi với!”,…

Chỉ cần có được một người tiên phong giúp đỡ, thì những người xung quanh sẽ có xu hướng cùng giúp đỡ theo.

Hiệu ứng Barnum/ hiệu ứng Forer (Barnum effect / Forer effect)

Hiệu ứng Barnum, hay còn gọi là hiệu ứng Forer, hiệu ứng Barnum – Forer, cho rằng mọi người thường tin vào những điều mà họ cảm thấy chỉ đúng với cá nhân họ trong khi thực tế những thông tin này rất chung chung và đúng với nhiều người khác.

Hiệu ứng tâm lý này xuất hiện nhiều nhất khi ta đọc về cung hoàng đạo, tử vi, bói toán hay các bài kiểm tra tính cách,… đặc biệt khi đó là những thông tin tích cực.

Hiệu ứng Barnum được nhắc đến lần đầu vào năm 1956 bởi nhà tâm lý học Paul Meehl, đặt theo tên của nghệ sĩ xiếc Phineas Taylor Barnum.

Sau đó, hiệu ứng này được chứng thực bởi nhà tâm lý học người Mỹ Bertram R. Forer qua một thí nghiệm thực hiện năm 1949, nên nó cũng có tên là hiệu ứng Forer.

Hiệu ứng BIRG (BIRG effect)

Hiệu ứng BIRG, hay còn gọi là đắm mình trong ánh hào quang phản xạ (basking in reflected glory), đề cập đến xu hướng mà các cá nhân thường liên kết bản thân với những người thành công hoặc nổi tiếng.

Ví dụ như khi đội bóng mà bạn ưa thích giành chiến thắng, bạn sẽ có xu hướng nói rằng “Chúng ta đã thắng”. Ngược lại, khi đội bóng ưa thích của bạn bị thua, bạn sẽ có xu hướng nói rằng “Họ đã thua”.

Thêm một trường hợp cũng rất phổ biến, đó là chúng ta có xu hướng muốn sử dụng những sản phẩm mà một người đang có danh tiếng tốt quảng bá / sử dụng hơn là sản phẩm mà những người đang gặp tai tiếng quảng bá / sử dụng.

Hiệu ứng bối cảnh (Context effect)

Hiệu ứng bối cảnh là một khía cạnh của tâm lý học nhận thức mô tả ảnh hưởng của các yếu tố môi trường đến nhận thức của một người.

Hiệu ứng bối cảnh có thể tác động đến cuộc sống hàng ngày của chúng ta theo nhiều cách như nhận dạng từ, khả năng học tập, trí nhớ và nhận dạng đối tượng.

Nó cũng có thể có ảnh hưởng sâu rộng đến marketing và quyết định của người tiêu dùng, nên được nghiên cứu chủ yếu trong marketing.

Ví dụ: Nghiên cứu đã chỉ ra rằng mức độ thoải mái của sàn mà người mua hàng đang đứng trong khi xem xét sản phẩm có thể ảnh hưởng đến đánh giá của họ về chất lượng sản phẩm, dẫn đến đánh giá cao hơn nếu sàn thoải mái và xếp hạng thấp hơn nếu không thoải mái.

Noka Marketing

Hiệu ứng bối cảnh thường được thảo luận cùng với khái niệm mồi (tham khảo về hiệu ứng chim mồi), là một hiện tượng trong đó việc tiếp xúc với kích thích ảnh hưởng đến phản ứng của chúng ta đối với các kích thích do hậu quả.

Ngoài ra, một hiện tượng liên quan khác là neo (tham khảo về hiệu ứng mỏ neo), tương tự khiến việc tiếp xúc với thông tin ban đầu ảnh hưởng nặng nề đến các quyết định trong tương lai.

Hiệu ứng tương phản (Contrast effect)

Hiệu ứng tương phản là một thiên kiến nhận thức làm sai lệch nhận thức của chúng ta về một thứ khi chúng ta so sánh nó với một thứ khác bằng cách gia tăng sự khác biệt giữa chúng.

Sự so sánh này có thể rõ ràng hoặc ẩn ý, đồng thời hoặc tại các thời điểm riêng biệt và có thể áp dụng cho các đặc điểm khác nhau, từ phẩm chất thể chất, chẳng hạn như màu sắc và mùi vị, đến các phẩm chất trừu tượng hơn, chẳng hạn như giá cả và sức hấp dẫn.

Trong một số trường hợp, hiệu ứng tương phản được phân thành hai loại chính:

-  Hiệu ứng tương phản tích cực: xảy ra khi một thứ gì đó được cho là tốt hơn so với những gì thường được nhìn nhận vì nó được so sánh với thứ tệ hơn. Ví dụ: hiệu ứng tương phản tích cực có thể khiến bìa sách trông thú vị hơn bình thường nếu nó được đặt cạnh một cuốn sách có bìa nhàm chán.

-  Hiệu ứng tương phản tiêu cực: xảy ra khi một thứ gì đó được cho là tồi tệ hơn so với những gì nó thường được cảm nhận vì nó được so sánh với thứ tốt hơn. Ví dụ: hiệu ứng tương phản tiêu cực có thể khiến một chiếc ô tô có vẻ rẻ hơn bình thường nếu nó đỗ cạnh một chiếc ô tô đắt tiền.

Hiệu ứng đồng hoá (Assimilation effect)

Hiệu ứng đồng hóa là một thiên kiến nhận thức làm sai lệch nhận thức của chúng ta về một thứ khi chúng ta so sánh nó với một thứ khác bằng cách giảm bớt sự khác biệt rõ ràng giữa chúng, khiến chúng có vẻ giống nhau hơn (ngược lại với hiệu ứng tương phản).

Ví dụ: hiệu ứng đồng hóa có thể ảnh hưởng đến những người thấy ai đó hành động theo thái độ thù địch và khiến họ coi hành vi của người khác là thù địch hơn so với những người khác.

Do đó, hiệu ứng đồng hóa tương tự như hiệu ứng tương phản, sự khác biệt là hiệu ứng đồng hóa làm giảm sự khác biệt nhận thức giữa những thứ đang được so sánh, trong khi hiệu ứng tương phản làm tăng sự khác biệt này.

Theo đó, hiệu ứng đồng hóa được coi là liên quan đến mối quan hệ tích cực giữa thông tin bối cảnh và đánh giá mà mọi người đưa ra, trong khi hiệu ứng tương phản được coi là có mối quan hệ tiêu cực giữa hai yếu tố này.

Hiệu ứng Boomerang (Boomerang effect)

Hiệu ứng Boomerang mô tả một tình huống tâm lý xã hội khi mà một người  trình bày một thông điệp thuyết phục tới những người khác nhưng kết quả là những người nghe lại ở lập trường ngược lại, không như mong muốn ban đầu.

Hiệu ứng này thường được tạo ra khi tỷ lệ người phản đối lớn hơn số người ủng hộ thông điệp gốc.

Các nghiên cứu cho thấy điều này xảy ra khi một người cảm thấy sự tự do lựa chọn của họ đang bị vi phạm nên đôi khi họ phản ứng bằng cách đi đến lập trường ngược lại.

Một trong những ví dụ dễ nhận thấy nhất chính là các câu mệnh lệnh nơi công cộng, ví dụ như “Cấm đổ rác”, “Cấm bước lên cỏ”,…

Đây là những thông điệp mạnh, có thể gây khó chịu cho người đọc và phần lớn là không hiệu quả (nếu như không có người giám sát hoặc không kèm theo hình phạt).

Thay vào đó, có thể đổi các câu trên thành một dạng thông điệp nhẹ hơn, dễ chịu hơn như: “Làm ơn đừng đổ rác tại đây”, “Xin vui lòng không bước lên cỏ”,…

Tuy nội dung dài hơn nhưng những thông điệp này dễ chịu hơn rất nhiều khi nghe hay đọc được, và ít có khả năng tạo ra hiệu ứng Boomerang hơn.

Hiệu ứng Bouba / Kiki (Bouba / Kiki effect)

Hiệu ứng Bouba / Kiki miêu tả việc chúng ta thường liên kết những âm thanh với một số hình ảnh nhất định.

Ngoài ra, một ví dụ vô cùng phổ biến của hiệu ứng Bouba / Kiki là việc đặt tên.

Một số tên đem lại cảm giác nữ tính, dịu dàng và được dùng để đặt tên cho con gái: Hồng, Lan, Mai, Đào,… Một số tên lại mang cảm giác nam tính, mạnh mẽ thường dùng để đặt tên cho con trai: Hùng, Dũng, Kiên, Cường,…

Hiệu ứng chắc chắn & hiệu ứng chắc chắn giả (Certainty effect & Pseudocertainty effect)

Hiệu ứng chắc chắn là hiệu ứng tâm lý dự đoán sự không thích rủi ro khi có lãi và tìm kiếm rủi ro khi thua lỗ khi có sự lựa chọn giữa một lựa chọn chắc chắn và một lựa chọn rủi ro. Ý tưởng này được giới thiệu trong lý thuyết triển vọng (prospect theory) bởi Kahneman và Tversky năm 1979.

Theo 2 tác giả, chúng ta luôn đánh giá những mất mát lớn hơn lợi nhuận nên ta có xu hướng chọn hành động an toàn để tránh tổn thất.

Noka Marketing

Ví dụ bạn có 2 lựa chọn: một là bạn chắc chắn 100% sẽ nhận được $900, hoặc hai là bạn chỉ có 90% xác suất nhận được $1000, 10% xác suất còn lại bạn sẽ chẳng nhận được đồng nào cả. Vậy bạn sẽ chọn lựa chọn nào?

Trong các thí nghiệm của mình, Kahneman và Tversky cho biết đa số mọi người sẽ chọn lựa chọn đầu tiên, họ muốn có 900 USD một cách chắc ăn và không muốn nhận về 10% rủi ro không có đồng nào cả.

Ở đây, chính sự chắc chắn của lựa chọn đầu tiên đã thu hút bạn. Thông thường, mọi người sẽ chấp nhận một phần thưởng nhỏ hơn nhưng chắc chắn hơn. Đó cũng là lý do tại sao các chương trình khuyến mãi tặng kèm luôn hấp dẫn hơn các chương trình khuyến mãi quay số trúng thưởng.

Hiệu ứng chân lý ảo tưởng (Illusory truth effect)

Hiệu ứng chân lý ảo tưởng, còn được gọi là hiệu ứng sự thật (truth effect) là xu hướng tin rằng thông tin sai là đúng sau khi được tiếp xúc nhiều lần.

Khi một sự thật được đánh giá, mọi người thường dựa vào việc liệu thông tin có phù hợp với tầm hiểu biết của họ không, hay là thông tin đó có quen thuộc với họ không.

Điều kiện đầu tiên khá hợp lý, khi mà mọi người so sánh thông tin mới với những gì họ đã biết là đúng để đưa ra kết luận thông tin mới là đúng hay sai.

Còn với điều kiện thứ hai, sự lặp đi lặp lại làm cho các thông điệp được xử lý dễ dàng hơn, nên các thông tin đã được lặp lại được kết luận là đúng hơn, đáng tin hơn so với các thông tin mới chưa được lặp lại bao giờ.

Hiệu ứng chân lý ảo tưởng cũng có liên quan đến thiên lệch nhận thức muộn (hindsight bias), trong đó sự hồi tưởng về sự tự tin bị lệch sau khi sự thật đã được tiếp nhận.

Hiệu ứng chân lý ảo tưởng đóng một vai trò quan trọng trong các lĩnh vực như chiến dịch bầu cử, quảng cáo, truyền thông tin tức và tuyên truyền chính trị.

Hiệu ứng chiếc quạt (Fan effect)

Hiệu ứng chiếc quạt là một hiện tượng tâm lý thuộc nhánh tâm lý học nhận thức, trong đó thời gian nhận biết hoặc tỷ lệ sai sót đối với một khái niệm cụ thể tăng lên khi có thêm thông tin về khái niệm đó.

Từ “chiếc quạt” (fan) đề cập đến nhiều liên kết hoặc mạng lưới ý tưởng của khái niệm, khi được minh hoạ qua sơ đồ trông như tạo thành một cái quạt.

Kết quả cho thấy những người tham gia khó phân biệt các khái niệm với nhiều mối liên hệ hơn là những khái niệm có ít mối liên hệ.

Chúng ta thường mất nhiều thời gian hơn để nhớ lại sự khác biệt trong chuỗi thứ hai vì có nhiều chi tiết giống nhau hơn do có nhiều liên kết với nhau hơn. Kết quả là thời gian xử lý lâu hơn hoặc xác suất mắc lỗi cao hơn.

Hiệu ứng chim mồi (Decoy effect)

Trong marketing, hiệu ứng chim mồi mô tả cách thức khi chúng ta đang lựa chọn giữa hai lựa chọn thay thế, việc thêm một lựa chọn thứ ba kém hấp dẫn hơn (chim mồi hay mồi nhử) có thể ảnh hưởng đến nhận thức của chúng ta về hai lựa chọn ban đầu.

Mồi nhử “chiếm ưu thế bất đối xứng” (asymmetrically dominated): chúng hoàn toàn thua kém một phương án (mục tiêu) nhưng chỉ kém một phần so với phương án kia (đối thủ cạnh tranh). Vì lý do này, hiệu ứng chim mồi đôi khi được gọi là hiệu ứng ưu thế bất đối xứng.

Ví dụ: Khi bạn đi cà phê ở Starbucks, bạn có 2 lựa chọn là cốc nhỏ giá €2,5 và cốc lớn giá €3,5 thì bạn sẽ chọn cốc nào? Cứ coi như xác suất bạn chọn 1 trong 2 cốc là 50%, tùy vào sở thích của bạn. Nhưng khi có thêm 1 lựa chọn thứ 3 là một cốc lớn với mức giá €5,0 và cốc lớn khi nãy bây giờ chỉ là cốc vừa, bạn sẽ chọn cốc nào?

Theo hiệu ứng chim mồi thì phần lớn mọi người sẽ chọn cốc vừa, đơn giản vì đó là phương án “nằm giữa”, bạn sẽ không cảm thấy ngại như khi mua cốc nhỏ hay cảm thấy tốn tiền khi mua cốc lớn. Lúc này, cốc lớn €5,0 được thêm vào với vai trò là “chim mồi” để xác suất bạn mua cốc €3,5 cao hơn, không còn là 50% như ban đầu nữa.

Hiệu ứng chữ cái bị thiếu (Missing letter effect)

Hiệu ứng chữ cái bị thiếu đề cập đến phát hiện rằng khi mọi người được yêu cầu phát hiện các chữ cái đích một cách có ý thức trong khi đọc văn bản, họ bỏ sót nhiều chữ cái hơn trong các từ chức năng (function words) hay gặp (Ví dụ: chữ “h” trong “the”) so với các từ nội dung (content words) ít gặp hơn. 

Hiệu ứng chủng tộc khác (Cross-race or Other-race effect)

Hiệu ứng chủng tộc khác giải thích tại sao một số người nhận diện khuôn mặt của những người thuộc chủng tộc của họ tốt hơn là những người thuộc chủng tộc khác.

Nó đôi khi còn được gọi là thiên vị chủng tộc của mình (Own-race bias).

Nghiên cứu sâu hơn về hiệu ứng chủng tộc khác cũng đã chỉ ra hai 2 kiểu xử lý thông tin để nhận dạng khuôn mặt: theo nét đặc trưng (featural) và theo tổng thể (holistic).

Người ta nhận thấy rằng việc nhận diện khuôn mặt một cách tổng thể thường được sử dụng nhiều hơn trong các tình huống cùng chủng tộc.
 

Ngoài ra, có một kiểu nữa gọi là hiệu ứng trải nghiệm (experience effect), nghĩa là khi một người có nhiều trải nghiệm hơn với những người thuộc một chủng tộc cụ thể, người đó sẽ có xu hướng sử dụng kiểu nhận diện khuôn mặt một cách tổng thể với chủng tộc đó.

Nhận diện khuôn mặt theo các nét đặc trưng thường được sử dụng nhiều hơn với những khuôn mặt không quen thuộc (thường là ở chủng tộc khác).

Hiệu ứng cộng hưởng nhóm (Assembly bonus effect)

Hiệu ứng cộng hưởng nhóm cho rằng kết quả hoạt động của cả một nhóm người sẽ tốt hơn kết quả hoạt động của bất cứ cá nhân nào trong nhóm đó hoặc bất cứ sự kết hợp nào của từng cá nhân lại với nhau.

Hiệu ứng Coolidge (Coolidge effect)

Hiệu ứng Coolidge là một hiện tượng sinh học được thấy ở động vật, theo đó con đực thể hiện hứng thú tình dục mới bất cứ khi nào có con cái mới được giới thiệu để quan hệ tình dục, ngay cả sau khi thỏa mãn tình dục với những bạn tình trước đó rồi nhưng nó vẫn còn sẵn sàng để giao phối tiếp.

Ở một mức độ thấp hơn, ảnh hưởng cũng được thấy ở con cái đối với bạn tình của chúng.

Hiệu ứng Coolidge được cho là làm tăng khả năng đáp ứng tình dục (sexual responsiveness) và rút ngắn thời gian chịu đựng tình dục (sexual refractory period).

Hiệu ứng Crespi (Crespi effect)

Hiệu ứng Crespi, tương tự với hiệu ứng tương phản, được biết đến nhiều hơn với cụm từ sự tương phản về hành vi (behavioral contrast) đề cập đến sự thay đổi về cường độ của một phản hồi xảy ra khi tỷ lệ phần thưởng của phản hồi thứ hai hoặc của phản hồi đầu tiên trong các điều kiện khác nhau bị thay đổi.

Kết quả thí nghiệm cho thấy sự hấp dẫn của phần thưởng ảnh hưởng đến sự phản hồi của động vật với một nhiệm vụ cụ thể.

Noka Marketing

Chẳng hạn như khi cho chuột chạy vào một cái mê cung, phần thưởng của chúng càng lớn thì chúng chạy càng nhanh để được nhận thưởng.

Như vậy, hiệu ứng Crespihiệu ứng tương phản tuy có vẻ giống nhau và đôi khi được dùng làm tên thay thế của nhau, nhưng có thể thấy là hiệu ứng Crespi nhấn mạnh vào sự tương phản về hành vi, đặc biệt là liên quan đến phần thưởng, còn hiệu ứng tương phản thì có hàm ý rộng hơn.

Hiệu ứng đặc điểm hiển hiện (Feature-positive Effect)

Hiệu ứng đặc điểm hiển hiện đề cập đến một xu hướng ở con người nói riêng và động vật nói chung thường gặp khó khăn trong quá trình xử lý thông tin về những thứ không hiển hiện hoặc không xảy ra.

Nói cách khác, não bộ con người cho rằng những gì đang tồn tại, đang hiện hữu có ý nghĩa hơn rất nhiều lần so với những gì không tồn tại, không hiển hiện. Do đó, chúng ta thường tập trung vào những thứ hiển hiện nhiều hơn là những thứ vắng mặt.

Hiệu ứng đèn gas (Gaslight Effect)

Hiệu ứng đèn gas là một hình thức ngược đãi cảm xúc thường thấy trong các mối quan hệ ngược đãi. Đó là hành động thao túng một người bằng cách buộc họ phải đặt câu hỏi về suy nghĩ, ký ức và những sự kiện xảy ra xung quanh họ. 

Một nạn nhân của hiệu ứng đèn gas có thể bị đẩy đi xa đến mức họ phải tự vấn về sự tỉnh táo của chính mình.

Thuật ngữ “gaslighting” xuất phát từ một vở kịch và sau đó là một bộ phim được gọi là “Gaslight”. Trong phim, người chồng quỷ quyệt (do Charles Boyer thủ vai) thao túng và hành hạ vợ mình (do Ingrid Bergman thủ vai) để thuyết phục cô ấy rằng cô đang bị phát điên.

Gaslighting dù cố ý hay không đều là một hình thức thao túng. Gaslighting có thể xảy ra trong nhiều loại quan hệ khác nhau, bao gồm cả mối quan hệ với sếp, bạn bè và cha mẹ. Nhưng một trong những hình thức kinh hoàng nhất của gaslighting là khi nó xảy ra trong mối quan hệ giữa một cặp vợ chồng.

Hiệu ứng đoàn tàu (Bandwagon effect)

Hiệu ứng đoàn tàu đề cập đến xu hướng mọi người phải áp dụng một hành vi, phong cách hoặc thái độ nhất định chỉ đơn giản là vì mọi người khác đang làm điều đó.

Càng nhiều người áp dụng một xu hướng cụ thể, thì càng có nhiều khả năng những người khác cũng sẽ làm tương tự.

Hiệu ứng đoàn tàu là một phần của một nhóm lớn hơn bao gồm các thiên kiến ​​nhận thức hoặc lỗi tư duy ảnh hưởng đến các phán đoán và quyết định mà mọi người đưa ra.

Những thiên kiến ​​nhận thức thường được tạo ra để giúp mọi người có thể suy nghĩ và lập luận nhanh hơn, nhưng đồng thời chúng cũng hay khiến ta đưa ra những nhận định sai lầm.

Hiệu ứng đoàn tàu về cơ bản là một dạng của tư duy tập thể (groupthink).

Khi mà tất cả mọi người dường như đều đang làm một điều gì đó sẽ tạo ra một áp lực to lớn khiến ta phải tuân thủ. Và đó có lẽ là lý do tại sao các hành vi của một “đoàn tàu” (bandwagon) có xu hướng hình thành rất dễ dàng.

Hiệu ứng đội cổ vũ (Cheerleader effect)

Hiệu ứng đội cổ vũ (hay hiệu ứng Cheerleader) là một dạng thiên kiến nhận thức khiến chúng ta cảm thấy các cá nhân dường như đẹp hơn, thu hút hơn khi người đó đứng cùng một nhóm người.

Lý giải cho hiện tượng này: con người thường không xử lý các thông tin chi tiết một cách riêng lẻ mà có xu hướng xử lý thông tin theo một nhóm tổng thể (tìm hiểu thêm về top-down processing).

Hiểu đơn giản là chúng ta thường không xử lý thông tin một cách độc lập mà bị tác động bởi môi trường xung quanh.

Khi nhìn vào một nhóm người, chúng ta sẽ có xu hướng nhìn tổng thể cả nhóm đó và tạo ra một “gương mặt trung bình” của cả nhóm. Điều này giúp cân bằng các ưu và khuyết điểm trên gương mặt của từng người.

Hiệu ứng đóng khung tâm lý (Framing effect)

Hiệu ứng đóng khung tâm lý là một thiên kiến nhận thức, nơi mọi người quyết định các lựa chọn dựa trên việc các lựa chọn đó được trình bày với hàm ý tích cực hay tiêu cực.

Mọi người có xu hướng tránh rủi ro khi đưa ra khung tích cực nhưng lại tìm kiếm rủi ro khi đưa ra khung tiêu cực.

Noka Marketing

Được và mất (gain and loss) được định nghĩa dưới dạng mô tả về kết quả (Ví dụ: số người bị chết hoặc được cứu sống, bệnh nhân mắc bệnh được điều trị và không được điều trị,…).

Ví dụ, trong 2 cách diễn đạt 20% chất béo và 80% không chất béo thì mọi người có xu hướng lựa chọn sản phẩm có cách diễn đạt thứ 2 hơn, mặc dù tỉ lệ chất béo trong 2 sản phẩm là giống hệt nhau.

Hiệu ứng đồng nhất khác nhóm (Out-group homogeneity effect)

Hiệu ứng đồng nhất khác nhóm là nhận thức cho rằng các thành viên khác nhóm có vẻ giống nhau hơn là các thành viên cùng nhóm.

Nói cách khác, những người thuộc cùng một nhóm có xu hướng cảm thấy các thành viên cùng nhóm mình đa dạng hơn, còn các thành viên trong các nhóm khác có vẻ giống nhau hay đồng nhất với nhau hơn.

Hiệu ứng đồng nhất khác nhóm đã xuất hiện ở nhiều nhóm xã hội khác nhau, từ các nhóm chính trị, các nhóm chủng tộc cho đến các nhóm về tuổi và giới tính

Hiệu ứng đồng thuận giả (False-consensus effect)

Trong tâm lý học, hiệu ứng đồng thuận giả còn được gọi là thiên kiến đồng thuận (consensus bias), là một thiên kiến nhận thức phổ biến khiến mọi người “coi những lựa chọn và phán đoán hành vi của họ là tương đối phổ biến và phù hợp với hoàn cảnh hiện tại”.

Nói cách khác, họ cho rằng những phẩm chất, đặc điểm, niềm tin và hành động cá nhân của họ tương đối phổ biến trong cộng đồng nói chung.

Một trong những nguyên nhân có thể có của hiệu ứng đồng thuận giả liên quan đến cái được gọi là suy nghiệm sẵn có (availability heuristic). Khi chúng ta cố gắng ước tính mức độ phổ biến hoặc khả năng xảy ra của một điều gì đó, chúng ta có xu hướng xem xét các ví dụ nảy ra trong đầu một cách dễ dàng nhất.

Về cơ bản, điều này có nghĩa là hiệu ứng đồng thuận giả khiến mọi người cho rằng những người khác nghĩ và hành động giống với cách mà họ làm, ngay cả khi không phải vậy.

Người Việt Nam cũng có một câu tục ngữ mang hàm ý tương tự: “Suy bụng ta ra bụng người”.

Hiệu ứng độc nhất giả (False-uniqueness effect)

Hiệu ứng độc nhất giả (hay sai lầm về tính duy nhất) là một dạng thiên kiến nhận thức trong tâm lý học xã hội mô tả cách mọi người có xu hướng coi những phẩm chất, đặc điểm và thuộc tính cá nhân của họ là duy nhất trong khi thực tế không phải như vậy.

Thông thường, thiên kiến này được đánh giá bằng cách thu thập các ước lượng mà mọi người đưa ra về tỷ lệ những người cùng trang lứa có những đặc điểm / hành vi tích cực hoặc tiêu cực với tỷ lệ thực tế những người có các đặc điểm và hành vi đó.

Một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng mọi người thường đánh giá thấp tỷ lệ những người cũng cư xử theo cách xã hội mong muốn và đánh giá cao tỷ lệ những hành vi mà xã hội không mong muốn.

Ví dụ:

Những người chăm tập thể dục (đây là hành vi mà xã hội mong muốn) có xu hướng cho rằng tỷ lệ những người chăm tập thể dục như mình thấp hơn so với số liệu thực tế (Kiểu “Mọi người thường rất lười tập thể dục!”).

Ngược lại, những người hút thuốc lá (hành vi mà xã hội không mong muốn) lại có xu hướng cho rằng tỷ lệ những người hút thuốc lá giống mình cao hơn so với thực tế (Kiểu “Số người hút thuốc nhiều mà!”).

Hiệu ứng tâm lý này trái ngược với hiệu ứng đồng thuận giả, trong đó mọi người có xu hướng đánh giá quá cao mức độ mà họ cho rằng thái độ và hành vi của họ là bình thường và cũng điển hình như những người khác.

Cả hai đều liên quan đến lòng tự trọng, là một yếu tố quan trọng trong việc xác định cách mọi người nhìn vào hành vi của họ. Mọi người có xu hướng trải nghiệm hiệu ứng độc nhất giả đối với các đặc điểm mong muốn của họ, trong khi họ áp dụng hiệu ứng đồng thuận giả để biện minh cho các đặc điểm tiêu cực.

Hiệu ứng Galatea, hiệu ứng Pygmalion và Lời tiên tri tự hoàn thành (Galatea effect, Pygmalion effect & Self-fulfilling prophecies)

Hiệu ứng Galateahiệu ứng Pygmalion thường được nhắc đến và hay đi kèm với nhau vì 2 hiệu ứng này có sự liên quan chặt chẽ về nguồn gốc, bắt nguồn từ một câu chuyện thần thoại Hy Lạp cổ về Pygmalion.

Trong thần thoại, Galatea là bức tượng được điêu khắc bởi vị vua cổ đại của Cyprus, Pygmalion. Sau khi tạc cô, Pygmalion nhanh chóng yêu Galatea và cầu nguyện với các vị thần, xin họ cho bức tượng trở thành người sống. Nữ thần Aphrodite đã đáp lại lời cầu nguyện của chàng và khiến nàng sống lại và hai người đã kết hôn.

Hiệu ứng Galateahiệu ứng Pygmalion được lấy theo tên của 2 nhân vật này, với ý nghĩa trái ngược nhau.

Noka Marketing

Hiệu ứng Pygmalion (hay hiệu ứng Rosenthal) là một hiện tượng tâm lý miêu tả việc kỳ vọng của người lãnh đạo cao dẫn đến hiệu suất của những người được dẫn dắt được cải thiện tốt hơn trong một lĩnh vực nhất định.

Nói cách khác, hiệu ứng Pygmalion cho rằng việc cấp trên tin tưởng và kỳ vọng cao về cấp dưới, thì cấp dưới có xu hướng cố gắng phấn đấu để đạt được thành công như kỳ vọng của cấp trên.

Ngược lại, hiệu ứng Galatea là một dạng lời tiên tri tự hoàn thành (self-fulfilling prophecies), cho rằng việc một người tin tưởng vào bản thân và đặt ra những kỳ vọng cao cho bản thân sẽ giúp người đó tự phấn đấu để đạt được những kỳ vọng đó.

Hiệu ứng Golem (Golem effect)

Hiệu ứng Golem là một hiện tượng tâm lý trong đó việc những người giám sát hoặc những cá nhân đặt ra những kỳ vọng thấp hơn vào cá nhân đó dẫn đến kết quả hoạt động kém hơn của cá nhân.

Hiệu ứng tâm lý này được đặt theo tên của Golem, một sinh vật được tạo nên từ đất sét và bùn, được giáo sĩ Do Thái ở Prague ban cho sự sống trong thần thoại Do Thái.

Theo truyền thuyết, Golem ban đầu được tạo ra để bảo vệ người Do Thái ở Prague. Tuy nhiên, theo thời gian, Golem ngày càng trở nên hư hỏng đến mức bùng phát bạo lực dữ dội ngoài tầm kiểm soát và phải bị tiêu diệt.

Hiệu ứng giả dược và hiệu ứng nocebo (Placebo effect & Nocebo effect)

Hiệu ứng giả dược là hiện tượng sức khỏe của bệnh nhân được quan sát thấy có sự cải thiện, mặc dù người đó nhận được giả dược thay vì điều trị y tế tích cực.

Trong y học, giả dược (placebo) là một chất, thuốc viên hoặc phương pháp điều trị khác trông có vẻ là một biện pháp can thiệp y tế nhưng lại không phải. Giả dược đặc biệt quan trọng trong các thử nghiệm lâm sàng, trong đó chúng thường được đưa cho những người tham gia trong nhóm đối chứng.

Có một điều quan trọng cần lưu ý là không phải tất cả các tác dụng giả dược đều có lợi. Trong một số trường hợp, các triệu chứng có thể tồi tệ hơn thay vì cải thiện khi dùng giả dược. Đây được gọi là hiệu ứng nocebo.

Các cơ chế của hiệu ứng giả dượchiệu ứng nocebo được cho là tương tự nhau, cả hai đều liên quan đến những thứ như điều kiện và kỳ vọng.

Hiệu ứng giãn cách (Spacing effect)

Hiệu ứng giãn cách giải thích rằng việc học sẽ hiệu quả hơn khi được lặp lại trong các buổi học cách nhau. Bằng cách lặp lại và tách rời thông tin mà cá nhân học được, họ có thể nhớ lại thông tin đó tốt hơn trong tương lai.

Hiệu ứng giãn cách xảy ra khi thông tin được học lặp đi lặp lại trong một khoảng thời gian dài cách nhau, giúp chúng ta có thể nhớ lại tốt hơn và ghi nhớ được thông tin đã học.

Hiệu ứng tâm lý này chứng minh rằng nhiều thông tin hơn được mã hóa vào bộ nhớ dài hạn của chúng ta khi được nghiên cứu trong các phiên cách nhau, một quá trình thường được gọi là lặp lại cách nhau (spaced repetition).

Một ví dụ điển hình về việc ứng dụng hiệu ứng giãn cách là những người học từ vựng tiếng Anh bằng flashcard, hay việc ôn lại bài sau từng khoảng thời gian và duy trì đến khi kiểm tra, thi cử,…

Hiệu ứng Google (Google effect)

Hiệu ứng Google, còn được gọi là chứng quên kỹ thuật số (digital amnesia) là xu hướng quên thông tin có thể tìm thấy trực tuyến dễ dàng bằng cách sử dụng các công cụ tìm kiếm trên Internet.

Theo nghiên cứu đầu tiên về hiệu ứng Google, mọi người ít có khả năng nhớ một số chi tiết mà họ tin rằng sẽ có thể truy cập trực tuyến (online). Tuy nhiên, nghiên cứu cũng tuyên bố rằng khả năng tìm hiểu thông tin ngoại tuyến (offline) của mọi người vẫn như nhau.

Hiệu ứng này cũng có thể được coi là sự thay đổi đối với thông tin nào và mức độ chi tiết nào được coi là quan trọng cần ghi nhớ.

Hiệu ứng Google lần đầu tiên được mô tả và đặt tên bởi Betsy Sparrow (Columbia), Jenny Liu (Wisconsin) và Daniel M. Wegner (Harvard) trong bài báo của họ từ tháng 7 năm 2011.

Sparrow và cộng sự ban đầu tuyên bố rằng sự phụ thuộc vào máy tính là một dạng trí nhớ chuyển hóa (transactive memory), bởi vì mọi người có thể chia sẻ thông tin với nhau một cách dễ dàng, nên họ quên đi những gì họ nghĩ sẽ có thể tìm lại sau đó, và họ nhớ vị trí tìm thông tin tốt hơn chính thông tin đó.

Hiệu ứng hào quang (Halo effect)

Hiệu ứng hào quang (đôi khi được gọi là lỗi hào quang – halo error) là xu hướng ấn tượng được tạo ra ở một lĩnh vực ảnh hưởng đến ý kiến ở lĩnh vực khác.

Một ví dụ đơn giản về hiệu ứng hào quang là khi một cá nhân nhận thấy một người trong ảnh hấp dẫn, chải chuốt và ăn mặc chỉnh tề, cá nhân đó sẽ giả định rằng người trong ảnh là người tốt dựa trên các quy tắc xã hội của cá nhân đó. (Thorndike, 1920 & Nisbett et al., 1977).

Noka Marketing

Sai lầm liên tục trong phán đoán này phản ánh sở thích, định kiến, hệ tư tưởng, nguyện vọng và nhận thức xã hội của mỗi người.

Hiệu ứng IKEA (IKEA effect)

Hiệu ứng IKEA, được đặt theo tên của “gã khổng lồ” nội thất đến từ Thụy Điển, mô tả cách mọi người có xu hướng đánh giá cao một đồ vật hơn nếu họ tự làm (hoặc lắp ráp) nó.

Do hiệu ứng IKEA, chúng ta thường sẵn sàng chi thêm tiền cho những trải nghiệm đòi hỏi chúng ta phải nỗ lực nhiều hơn, chẳng hạn như tự lắp ráp đồ nội thất thay vì mua những sản phẩm đã được lắp sẵn.

Chắc chắn là những trải nghiệm này có thể rất thú vị và khiến ta cảm thấy xứng đáng, nhưng điều này vẫn có thể khiến chúng ta chi tiêu quá mức cần thiết.

Hiệu ứng IKEA cũng có thể cho chúng ta thấy một hình ảnh sai lệch về việc chúng ta đã hoàn thành công việc tốt như thế nào khi bỏ công sức làm một việc gì đó thật chăm chỉ, và khiến chúng ta trở nên quá tự tin.

Hiệu ứng IKEA có thể khiến chúng ta bỏ qua thực tế rằng chúng ta đang nhận được một thỏa thuận tồi: vừa mất tiền vừa mất sức.

Hiệu ứng IKEA rất giống với một thiên kiến nhận thức khác được gọi là hiệu ứng sở hữu, trong đó mọi người thường đánh giá cao các món đồ hơn nếu chúng thuộc về mình hoặc ngay cả khi họ chỉ cảm thấy có quyền sở hữu chúng.

Hiệu ứng khán giả (Audience effect)

Hiệu ứng khán giả là một dạng của sự hỗ trợ xã hội (social facilitation), cho rằng màn biểu diễn của một cá nhân bị ảnh hưởng bởi sự hiện diện của những người khác (ví dụ như khán giả), khiến phản ứng ưu thế của cá nhân đó xảy ra. 

Hiệu ứng khán giả giải thích lý do tại sao sự hiện diện của khán giả khiến cho con người biểu diễn tốt hơn trong một số trường hợp này và tệ hơn trong một vài trường hợp khác, do những áp lực về tâm lý hay sự căng thẳng.

Tuy nhiên, sự ức chế xã hội (social inhibition – sự giảm hiệu suất khi có mặt người khác) lại xảy ra đối với các nhiệm vụ khó hoặc mới lạ.

Hiệu ứng khởi đầu mới (Fresh Start effect)

Hiệu ứng khởi đầu mới nói rằng mọi người sẽ đạt được mục tiêu tốt hơn khi họ bắt đầu vào những mốc thời gian tạm thời (ví dụ như ngày đầu của năm mới, ngày đầu tháng, ngày đầu đầu / cuối tuần,…).

Hiệu ứng khởi đầu mới là một kiểu thiết lập lại tâm lý, một chiến lược có thể hữu ích trong việc phục hồi sau thất bại trước đó.

Tuy nhiên, việc thiết lập lại hiệu suất và bắt đầu lại không phải lúc nào cũng có lợi cho bạn, đặc biệt là khi trước đó bạn thành công chứ không phải thất bại.

Tóm lại là nếu những gì bạn đang làm có kết quả tốt thì việc đặt ra một “khởi đầu mới” không có ý nghĩa gì lắm và thậm chí kết quả còn tệ hơn hiện tại, vì khi đó bạn chỉ đang tiếp tục thực hiện nó thôi chứ không phải là bắt đầu lại.

Còn nếu bạn gặp thất bại trong những việc đang làm, thì việc đặt ra một “khởi đầu mới” sẽ tạo động lực giúp bạn lấy lại tinh thần và đứng lên sau vấp ngã.

Hiệu ứng kiểm tra (Testing effect)

Hiệu ứng kiểm tra là một phát hiện cho rằng trí nhớ dài hạn thường được tăng lên khi một số giai đoạn học tập được dành ra để truy xuất thông tin cần ghi nhớ. Hiểu nôm na là việc kiểm tra giúp ghi nhớ tốt hơn so với việc học đi học lại các thông tin.

Hiệu ứng tâm lý này rất hữu ích cho mọi người để kiểm tra kiến thức của họ về tài liệu cần ghi nhớ trong quá trình học tập, thay vì chỉ đọc hoặc nghiên cứu tài liệu một cách thụ động.

Ví dụ: Một học sinh có thể sử dụng thẻ từ vựng (flashcard) để tự kiểm tra và ôn tập khi học.

Việc đưa ra phản hồi, chủ yếu dưới dạng thấy được câu trả lời đúng, giúp làm tăng hiệu quả của hiệu ứng kiểm tra.

Khả năng truy xuất thông tin trong ngữ cảnh này mô tả sự thành công trong việc nhớ lại được nội dung đã học, dẫn đến các câu trả lời chính xác trong bài kiểm tra. Do đó, khả năng truy xuất có thể được đo bởi độ khó (tính điểm) của các câu hỏi trong bài kiểm tra.

Hiệu ứng kỳ vọng của đối tượng (Subject-expectancy effect)

Trong nghiên cứu khoa học và tâm lý trị liệu, hiệu ứng kỳ vọng của đối tượng là một dạng phản ứng xảy ra khi đối tượng nghiên cứu mong đợi một kết quả nhất định và do đó tác động đến kết quả đó một cách vô thức hoặc báo cáo lại kết quả mong đợi.

Vì hiệu ứng này có thể làm sai lệch đáng kể các kết quả thí nghiệm (đặc biệt là trên đối tượng là con người), phương pháp mù đôi (double-blind methodology) được sử dụng để loại bỏ hiệu ứng.

Giống như hiệu ứng kỳ vọng của người quan sát được nhắc đến ngay dưới đây, hiệu ứng này thường là nguyên nhân gây ra các kết quả “kỳ quặc” trong nhiều thí nghiệm.

Hiệu ứng kỳ vọng của đối tượng thường thấy nhất trong y học, nơi nó có thể khiến đối tượng trải qua hiệu ứng giả dược hoặc hiệu ứng nocebo, tùy thuộc vào cách ảnh hưởng lan ra.

Hiệu ứng kỳ vọng của người quan sát (Observer-expectancy effect)

Hiệu ứng kỳ vọng của người quan sát (còn được gọi là hiệu ứng kỳ vọng của người thí nghiệm – experimenter expectancy effect, thiên kiến kỳ vọng hay hiệu ứng người quan sát) là một dạng phản ứng trong đó thiên kiến nhận thức của nhà nghiên cứu khiến họ vô thức gây ảnh hưởng đến những người tham gia thí nghiệm.

Thiên kiến xác nhận có thể dẫn đến việc người thí nghiệm diễn giải kết quả không chính xác bởi xu hướng tìm kiếm thông tin phù hợp với giả thuyết của họ và bỏ qua thông tin lập luận chống lại nó.

Noka Marketing

Trong hiệu ứng kỳ vọng của người quan sát, người thí nghiệm có thể thông báo một cách tinh tế những kỳ vọng của họ về kết quả nghiên cứu cho những người tham gia, khiến họ thay đổi hành vi của mình để phù hợp với những kỳ vọng đó.

Hiệu ứng mặc định (Default effect)

Hiệu ứng mặc định là xu hướng mà khi đứng giữa các lựa chọn khác nhau, lựa chọn mặc định (tức là lựa chọn mà người chọn không cần phải làm gì hay chỉnh sửa gì thêm) sẽ có xu hướng được chọn nhiều hơn.

Một ví dụ điển hình của hiệu ứng mặc định là khi bản mua hay tải phần mềm từ trên mạng về cài vào máy.

Trong quá trình cài đặt sẽ có những tuỳ chọn mà nhà sản xuất phần mềm đã tích sẵn mặc định cho chúng ta, và chúng ta có xu hướng cứ để mặc định như vậy mà cài, không thay đổi gì thêm.

Việc ứng dụng hiệu ứng mặc định vào kinh doanh sẽ đẹp lại hiệu quả tương đối lớn cho các doanh nghiệp bởi khả năng định hướng được quá trình ra quyết định của người tiêu dùng.

Tuy nhiên, cũng vì cơ sở của hiệu ứng mặc định là dựa trên sự “không làm gì”, nên việc khách hàng có tiếp tục cam kết với lựa chọn đó trong một thời gian dài sau này không thì không thể đảm bảo được.

Hiệu ứng McGurk (McGurk effect)

Hiệu ứng McGurk là một hiện tượng tri giác thể hiện sự tương tác giữa thính giác và thị giác trong nhận thức lời nói. Ảo giác xảy ra khi thành phần thính giác của một âm thanh được ghép nối với thành phần thị giác của âm thanh khác, dẫn đến nhận thức về âm thanh thứ ba.

Hiệu ứng mỏ neo / Hiệu ứng tập trung (Anchoring / Focusing effect)

Hiệu ứng mỏ neo (hay hiệu ứng tập trung) là một thiên kiến nhận thức trong đó một cá nhân phụ thuộc quá nhiều vào một phần thông tin ban đầu được cung cấp (được coi là “mỏ neo”) để đưa ra các phán đoán tiếp theo trong quá trình ra quyết định.

Khi giá trị của neo này được đặt, tất cả các cuộc đàm phán, lập luận, ước tính,… trong tương lai sẽ được thảo luận liên quan đến neo. Thông tin phù hợp với mỏ neo có xu hướng được đồng hóa với nó, trong khi thông tin bất hòa hơn hoặc ít liên quan hơn có xu hướng bị thay thế.

Hiệu ứng mỏ neo thường được thấy với các ví dụ về định giá trước đây / bây giờ. Giá cao hơn có thể ngăn cản khách hàng mua hàng. Tuy nhiên, khi thương hiệu hoặc nhà bán lẻ đưa ra giá bán thấp hơn, giá cao hơn ban đầu đóng vai trò là điểm neo, khiến giá bán mới có vẻ như có giá trị tốt hơn.

Hiệu ứng nổi trội (Salience Effect)

Hiệu ứng nổi trội hay thiên kiến nổi trội (salience bias) là xu hướng tập trung vào những thứ hoặc thông tin đáng chú ý hơn trong khi bỏ qua những thứ không thu hút sự chú ý của chúng ta.

Con người đưa ra hàng nghìn quyết định mỗi ngày và các yếu tố thu hút sự chú ý như ngoại hình, hương vị, âm thanh và thậm chí mức độ liên quan của cuộc trò chuyện cản trở khả năng của trí óc để thực hiện các suy tính một cách hợp lý.

Nhận thức được thiên kiến của chúng ta đối với các khía cạnh nổi bật của cuộc sống có thể bảo vệ chúng ta khỏi những lý luận kém cỏi và những sai lầm đắt giá trong cuộc sống cá nhân và nghề nghiệp của mỗi người.

Thật vậy, cho dù chúng ta đang cố gắng duy trì một chế độ ăn uống lành mạnh hay đang cố gắng quản lý tài chính cá nhân của mình, thì việc nhận thức một cách nghiêm túc về cách hiệu ứng nổi trội biểu hiện ra có thể giúp chúng ta kiểm soát việc ra quyết định và cải thiện đáng kể cuộc sống của chính mình.

Hiệu ứng phản tác dụng (Backfire Effect)

Hiệu ứng phản tác dụng là một thiên kiến nhận thức khiến những người gặp phải bằng chứng thách thức niềm tin của họ không những không thay đổi niềm tin mà còn bác bỏ bằng chứng đó và củng cố sự ủng hộ của họ đối với lập trường ban đầu của bản thân.

Về cơ bản, hiệu ứng phản tác dụng có nghĩa là việc cho mọi người xem bằng chứng chứng minh rằng họ sai thường không hiệu quả và thực sự có thể gây phản tác dụng, bằng cách khiến họ ủng hộ lập trường ban đầu của họ mạnh mẽ hơn so với trước đây.

Hiệu ứng phản tác dụng là một kiểu phụ (subtype) của thiên kiến xác nhận, đó là thiên kiến nhận thức có thể khiến mọi người từ chối thông tin mâu thuẫn với niềm tin của họ hoặc giải thích thông tin theo cách xác nhận những niềm tin đó.

Hiệu ứng phương thức (Modality effect)

Hiệu ứng phương thức đề cập đến bất kỳ sự khác biệt nào về hiệu suất của bộ nhớ có liên quan đến sự khác biệt về phương thức kích thích.

Trong hiệu ứng phương thức cổ điển, việc nhớ lại ngay lập tức một vài mục cuối cùng từ một trình tự bằng lời nói bị ảnh hưởng bởi phương thức trình bày: khả năng nhớ lại cao hơn nếu trình tự được nói to hơn là đọc thầm.

Hiệu ứng Ringelmann (Ringelmann effect)

Hiệu ứng Ringelmann hay còn gọi là đặc tính lười biếng xã hội (social loafing) là xu hướng các thành viên trong nhóm ngày càng trở nên kém năng suất hơn khi quy mô nhóm của họ tăng lên.

Noka Marketing

Theo Ringelmann, các nhóm không phát huy được hết tiềm năng của mình bởi vì các quá trình tương tác đa dạng giữa các cá nhân với nhau làm giảm mức độ thành thạo chung của nhóm.

Hai quá trình khác biệt đã được xác định là những nguyên nhân tiềm ẩn làm giảm năng suất của nhóm: mất động lực và các vấn đề về sự phối hợp.

Hiệu ứng sai lầm (Pratfall effect)

Trong tâm lý học xã hội, hiệu ứng sai lầm (hiệu ứng Pratfall) là xu hướng sự hấp dẫn giữa các cá nhân tăng hoặc giảm sau khi một cá nhân mắc lỗi, tùy thuộc vào năng lực nhận thức của người mắc lỗi.

Một cá nhân được nhận thấy là có năng lực cao sẽ được coi là dễ mến hơn sau khi mắc lỗi, trong khi một cá nhân được nhận thấy là có năng lực trung bình sẽ được coi là ít đáng yêu hơn.

Hiểu theo một cách ngắn gọn hơn: người giỏi mà mắc lỗi thì đáng yêu, người dốt mà mắc lỗi thì đáng ghét.

Hiệu ứng sai lệch thông tin (Misinformation effect)

Hiệu ứng sai lệch thông tin đề cập đến xu hướng thông tin sau sự kiện can thiệp vào kí ức của sự kiện ban đầu.

Các nhà nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc giới thiệu một thông tin cho dù rất tế nhị sau một sự kiện có thể có tác động đáng kể đến cách mọi người ghi nhớ.

Hiệu ứng sai lệch thông tin có thể dẫn đến ký ức không chính xác và trong một số trường hợp, dẫn đến hình thành ký ức sai lệch (false memories).

Nếu một câu hỏi chứa thông tin sai lệch, nó có thể làm sai lệch ký ức về sự kiện, một hiện tượng mà các nhà tâm lý học đã gọi là hiệu ứng sai lệch thông tin.

Loftus giải thích: “Hiệu ứng sai lệch thông tin đề cập đến sự suy giảm trí nhớ trong quá khứ phát sinh sau khi tiếp xúc với thông tin sai lệch.”

Hiệu ứng sở hữu (Endowment effect)

Trong tâm lý học và kinh tế học hành vi, hiệu ứng sở hữu nói rằng con người có xu hướng giữ lại thứ mà họ đang sở hữu hơn là nhận được thứ y hệt nhưng không phải của họ.

Một cách giải thích khác theo Kahneman năm 1990 cho rằng chúng ta thường định giá những thứ mà chúng ta đang sở hữu cao hơn so với giá thị trường của chúng.

Vì lý do đó, khi chúng ta bán đi một thứ gì mà mình đã từng sở hữu, chúng ta có xu hướng bán nó với mức giá cao hơn mức giá mà chúng ta sẵn sàng chi trả cho một thứ tương tự.

Có 2 lý do tâm lý khiến chúng ta sẵn sàng bán thứ gì đó với giá cao hơn mức chúng ta sẵn sàng trả cho nó: ác cảm mất mát (loss aversion) và quyền sở hữu (ownership).

-  Thứ nhất, mọi người vốn không thích sự mất mát: chúng ta có thể biện minh cho việc “đánh mất” thứ mà chúng ta đang sở hữu (thông qua việc bán nó) nếu ai đó sẵn sàng trả giá cao cho nó.

-  Thứ hai, chúng ta cũng có xu hướng kích hoạt hiệu ứng sở hữu khi chúng ta cảm thấy có quyền sở hữu (ownership) hoặc sự sở hữu (possession) đối với những thứ đó.

Hiệu ứng thưởng dư thừa (Overjustification effect)

Hiệu ứng thưởng dư thừa xảy ra khi một phần thưởng khích lệ từ bên ngoài được trông đợi sẽ nhận được như tiền bạc hoặc giải thưởng làm giảm động lực nội tại của một người để thực hiện nhiệm vụ.

Việc đưa ra phần thưởng cho một hoạt động mà trước đó vốn không được thưởng tạo ra sự chuyển dịch từ động lực nội tại sang động lực ngoại sinh, và làm suy yếu động lực nội tại đã có từ trước.

Vì thế, sau khi không còn được nhận thưởng, sự hứng thú với hoạt động đó sẽ bị mất. Động lực nội tại trước đó không trở lại nữa, và phần thưởng từ bên ngoài phải liên tục được đưa ra làm động lực ngoại sinh để duy trì hoạt động.

Hiệu ứng tiền chùa / hiệu ứng tiền nhà cái (House-Money Effect)

Hiệu ứng tiền chùa (hay hiệu ứng tiền nhà cái) là một lý thuyết được sử dụng để giải thích xu hướng các nhà đầu tư thường chấp nhận rủi ro lớn hơn khi tái đầu tư lợi nhuận kiếm được thông qua đầu tư so với khi đầu tư tiền tiết kiệm hoặc tiền lương của chính họ.

Nói một cách đơn giản, đây là nhận định rằng chúng ta sẵn sàng chi tiêu và chấp nhận rủi ro hơn với số tiền mà chúng ta kiếm được một cách dễ dàng hay bất ngờ.

Mọi người thường sẽ nghĩ rằng thu nhập từ đầu tư tách biệt với tiền họ kiếm được theo những cách khác, điều này làm sai lệch kế toán tinh thần (mental accounting) của họ.

Hiệu ứng đầu mục & hiệu ứng gần đây (Primacy effect & Recency effect)

Hiệu ứng đầu mục đề cập đến xu hướng nhớ lại thông tin được trình bày ở đầu danh sách tốt hơn so với thông tin ở giữa hoặc cuối.

Noka Marketing

Hiệu ứng đầu mục có thể xảy ra theo nhiều cách khác nhau. Ví dụ, khi một cá nhân cố gắng nhớ điều gì đó từ một danh sách dài các từ, họ sẽ nhớ những từ được liệt kê ở đầu thay vì ở giữa.

Hiệu ứng Von Restorff (Von Restorff effect)

Hiệu ứng Von Restorff, còn được gọi là hiệu ứng cô lập (isolation effect), dự đoán rằng khi có nhiều nhân tố kích thích hiện diện, thì nhân tố khác với phần còn lại có nhiều khả năng được ghi nhớ hơn.

Ví dụ:

Nếu một người xem danh sách mua sắm với một mặt hàng được đánh dấu bằng màu vàng tươi sáng, người đó sẽ có nhiều khả năng nhớ mặt hàng được đánh dấu hơn bất kỳ mặt hàng nào khác.

Ngoài ra, trong danh sách các từ sau: bàn, ghế, giường, mèo, tủ quần áo, cửa, sàn nhà, thì từ “mèo” sẽ được ghi nhớ nhiều nhất vì nó khác biệt so với những từ còn lại về nghĩa của nó.

Hội chứng Munchausen (Munchausen syndrome)

Hội chứng Munchausen, còn được gọi là rối loạn giả tạo áp đặt lên bản thân (factitious disorder imposed on self), là một chứng rối loạn giả tạo (factitious disorder) trong đó những người bị ảnh hưởng bởi bệnh giả, ốm hoặc sang chấn tâm lý để thu hút sự chú ý, sự cảm thông hoặc trấn an bản thân.

Hội chứng Munchausen phù hợp với phân lớp của rối loạn giả tạo với chủ yếu là các dấu hiệu và triệu chứng về thể chất, nhưng bệnh nhân cũng có tiền sử nhập viện thường kỳ, đi lại nhiều và những câu chuyện kịch tính, cực kỳ khó đoán về những trải nghiệm trong quá khứ của họ. 

Rối loạn giả tạo áp đặt lên bản thân có liên quan đến chứng rối loạn giả tạo áp đặt lên người khác (factitious disorder imposed on another), ám chỉ việc lạm dụng người khác, điển hình là trẻ em, để tìm kiếm sự chú ý hoặc thông cảm cho kẻ bạo hành.

Hy vọng bài viết sẽ mang lại những thông tin hữu ích dành cho bạn. Hãy theo dõi Noka Marketing để cập nhật thêm những thông tin hay và bổ ích nhé!
Nguồn: sofiablogvn.com

NOKA MARKETING 

Website: Nokamarketing.com

Email: Khanhvo@nokamarketing.com

SĐT/Zalo: 0901 634 434 - Khánh

Fanpage: Dịch vụ Quảng Cáo Marketing

 

 

 

Zalo
Hotline